Cộng đồng

Trả lời báo chí và bài học từ Bác Hồ

Trả lời phỏng vấn là một hoạt động nghề nghiệp ngoại giao có vai trò quan trọng. Trong ấn phẩm Chuyện nghề, chuyện nghiệp ngoại giao, ông Vũ Khoan đã chia sẻ về nghệ thuật trả lời phỏng vấn báo chí của Bác Hồ.


“Tôi cho rằng, cách trả lời phỏng vấn của Bác Hồ là hay nhất. Tôi nói vậy không phải chỉ vì sự tôn kính đối với Bác mà tôi đã đọc lại tất cả 95 bài trả lời phỏng vấn của Người dành cho các nhà báo nước ngoài từ sau Cách mạng Tháng Tám tới khi qua đời. Tôi cảm nhận rằng, tất cả các bài đó đều do Bác tự viết, tự nói vì văn phong rất đặc trưng, không lẫn với ai được.

Ngay điều này đã mách bảo chúng ta rằng, quyết không nên né tránh mà cần tích cực, chủ động trả lời phỏng vấn báo chí vì đây là một kênh hết sức hữu hiệu làm cho dư luận thế giới hiểu rõ tình hình cũng như chủ trương, chính sách của ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của họ, đấu tranh với những luận điệu sai trái và trong nhiều trường hợp đưa ra những thông điệp, tín hiệu cần thiết phục vụ cho cuộc đấu tranh ngoại giao.

Nội dung trả lời của Bác hết sức phong phú, bao quát nhiều vấn đề: từ trong nước đến quốc tế, từ chính sách đối nội đến đối ngoại, từ chính trị đến kinh tế-xã hội, từ an ninh quốc phòng đến cả đời tư… Trong gần 100 lần Bác trả lời phỏng vấn hàm chứa biết bao tư tưởng, triết lý lớn.

Nội dung bao la như vậy, song các cuộc trả lời phỏng vấn của Bác luôn thể hiện tinh thần “kiệm lời, nhiều ý”, không lần nào Bác nói dài, nhiều khi chỉ vài ba câu và không bao giờ dùng những từ chung chung, không rõ nội hàm. Cùng một ý, Bác thể hiện dưới nhiều dạng thức, uyển chuyển, biến hóa, vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo. Ví dụ, trong những năm 1945-1946 khi đủ loại thù trong giặc ngoài đe dọa độc lập, chủ quyền và sự thống nhất đất nước, trong 11 lần trả lời phỏng vấn, Bác đều nhấn mạnh quyết tâm đấu tranh cho độc lập, thống nhất: Khi thì khẳng định “chúng ta không chống lại tất cả nước Pháp, tất cả dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hòa bình… thì điều kiện căn bản… là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam” hay lấy ngay lý tưởng cao đẹp của cách mạng Pháp để khẳng định ý chí của dân tộc ta “Dân Việt Nam có một ý muốn rất bình thường là tranh đấu giống như người Pháp đó thôi. Ba tiếng Tự do, Bình đẳng, Bác ái đã làm cho Pháp thành một dân tộc tiên tiến, thì chúng tôi cũng chỉ muốn tranh đấu để được như thế”. Cách thể hiện như vậy vừa góp phần củng cố lập luận của mình, vừa đẩy đối phương vào thế khó phản bác, vừa tranh thủ dư luận rộng rãi.

Bác luôn đi thẳng vào vấn đề được hỏi, không vòng vo, đồng thời luôn giữ thế chủ động, tinh thần tấn công, đôi khi hài hước, chế nhạo những thủ đoạn của một số nhà báo có ý móc máy. Trong cuộc họp báo ngày 26/12/1945, liên quan tới thỏa thuận về sự hòa giải giữa Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng, có nhà báo hỏi 14 điều thỏa thuận đăng trên báo Việt Nam (cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng) có đúng không? Bác trả lời ngay: “Đúng, nhưng phải thêm một điều nữa là đôi bên đã đồng ý với nhau chưa nên công bố, không hiểu sao báo Việt Nam lại đăng. Có lẽ báo ấy quên chăng?”. Tiếp đó, trả lời câu hỏi của nhà báo khác rằng: Báo Liên Hiệp đăng Chính phủ Việt Minh từ chức là nghĩa gì? Bác hỏi lại: “Làm gì có Chính phủ Việt Minh, mà đã không có thì từ chức làm sao?”.

Bác không bao giờ né tránh câu hỏi “hóc búa”, nhạy cảm, đồng thời khéo léo xử lý tình huống theo cách: “có nhưng có thể hiểu là không, không nhưng có thể hiểu là có”. Lúc cách mạng mới thành công, do hoàn cảnh lúc bấy giờ, Đảng ta tuyên bố “tự giải tán”, nhưng vẫn hoạt động dưới hình thức Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, nhiều nhà báo nước ngoài tìm mọi cách để Bác khẳng định mình là “cộng sản” để phân hóa nước ta với các nước khác và một số tầng lớp trong nước hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản.

Một lần kia, có nhà báo hỏi: Nghe nói Chủ tịch tuyên bố rằng Chủ tịch có xu hướng Cộng sản, nhưng có phải Chủ tịch cho rằng nước Việt Nam chưa thể cộng sản hóa được trong một thời hạn 50 năm không? Bác bèn trả lời, “tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2.000 năm, Đức Chúa Jesus đã nói là phải yêu mến kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được. Còn khi nào thì chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được. Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ”.

Trong nhiều trường hợp, Bác trả lời ngắn gọn, dứt khoát, rõ ràng. Trả lời phỏng vấn báo Frères D’armes năm 1948, về câu hỏi Chủ tịch ghét gì nhất, Bác trả lời “điều ác”; còn điều gì yêu nhất thì Bác đáp lại “điều thiện”; về điều gì mong muốn nhất, Bác khẳng định: nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu; còn việc gì sợ nhất thì Bác nói rõ: chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì!

Bác thường tránh nói về đời tư, mặc dầu vậy có khi Bác cũng trả lời song luôn khéo léo gắn với sự nghiệp chung: “Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn”.

Khi giao tiếp với báo chí, cũng như khi nói chuyện, Bác hay dùng những câu ví dân gian đầy hình tượng và dễ nhớ. Trả lời các nhà báo về những yêu sách ngang ngược của bọn Trung Hoa Quốc dân Đảng ở ta, Bác dặn dân ta “muốn gánh được nặng phải chịu được khó nhọc”. Trả lời câu hỏi về vấn đề ngoại giao, Bác nhấn mạnh: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”.

Ước gì tất cả những ai tiếp xúc với báo chí hãy chịu khó nghiên cứu để học Bác không lảng tránh báo chí, tránh ăn nói dông dài, ý tứ không rõ ràng, đối đáp không sắc sảo, không có lợi cho hình ảnh đất nước”.

Tài ứng đối của Bác Hồ

Ngày 13/8/1942, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc nhằm tiếp xúc với chính quyền Tưởng Giới Thạch để trao đổi về việc hợp tác chống quân phiệt Nhật. Người bị chính quyền Quảng Tây bắt giam đến ngày 10/9/1943 mới trả tự do. Khi được trả tự do, Người được Tướng Trương Phát Khuê của Tưởng Giới Thạch mời tham gia Ban trù bị Đại hội toàn quốc của Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách). Đây là một tổ chức giả danh cách mạng do Tưởng thành lập tháng 10/1942, nhằm làm bình phong cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” sau này. Chúng chỉ định 7 uỷ viên Ban Chấp hành người Việt Nam trong đó có Trương Bội Công – Thiếu tướng Quốc dân Đảng, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần.

Thấy từ chối không lợi và để “tương kế tựu kế”, Hồ Chí Minh đã nhận lời tham gia Ban chấp hành lâm thời này. Trương Phát Khuê đưa Hồ Chí Minh ra trú tại Nhà Văn hoá Trung Sơn ở Liễu Châu và giao cho Hầu Chí Minh, Chủ nhiệm chính trị Bộ tứ chiến khu “trông nom”.

Một lần tại bữa tiệc do Hầu Chí Minh chiêu đãi có sự tham gia của Người và cả Nguyễn Hải Thần. Nguyễn Hải Thần rất tự kiêu về kiến thức Hán học của mình vì đã ở Trung Quốc hơn 40 năm, nhân dịp này đã ra một vế đối:

“Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí giai minh”. Nội dung của vế đối là: Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh, hai vị đồng chí, chí đều sáng.

Khi mọi người còn đang nghĩ vế đáp, thì Bác Hồ đã ứng khẩu:

“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách”. Nghĩa là: Anh cách mạng, tôi cách mạng, mọi người cách mạng, mạng phải cách”.

Chỗ khó và hay của vế đối là hai chữ “Minh”, tên của hai nhân vật chính trong bữa tiệc. Tài tình của Bác là kịp thời, hợp cảnh và rất chỉnh cả ý và tứ, nhưng nâng tầm nhận thức tư tưởng cao hơn, mang tính cách mạng hơn. Tướng Hầu Chí Minh hết lời ca ngợi, cho là vế đối tuyệt hay, còn Nguyễn Hải Thần thì cung kính thốt lên: “Hồ tiên sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục”.

Năm 1946, sau khi thăm chính thức nước Pháp và ký Tạm ước ngày 14/9, Hồ Chủ tịch trở lại Việt Nam không phải bằng máy bay mà bằng tàu biển. Bác lấy lý do là tim yếu không đi máy bay được. Ngày 18/10, Bác và Đoàn tuỳ tùng về đến vịnh Cam Ranh. Cao ủy Pháp ở Đông Dương là D’Argenlieu đón Người trên tuần dương hạm Suphren với 21 phát đại bác chào mừng và nghi lễ quân đội.

Mục đích của D’Argenlieu là vừa giễu võ giương oai nhằm uy hiếp tinh thần và vừa mua chuộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý cho quân Pháp thay thế quân ta ở Nam Bộ. Trong bộ quần áo giản dị, Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc Hải quân Pháp, một bên là Thống soái lực lượng lục quân Pháp ở Viễn Đông với các bộ quân phục, quân hàm, quân hiệu và các thứ bội tinh.

D’Argenlieu nói bóng gió: “Thưa Ngài Chủ tịch, Ngài đã bị đóng khung giữa hải quân và lục quân Pháp rồi đó!” – Bác thản nhiên mỉm cười: “Đô đốc biết đó, chính bức hoạ mới đem lại giá trị cho bộ khung”.

Bất ngờ và cay cú trước tài ứng xử thông minh của Bác, cả hai không dám nói xách mé nữa mà tỏ ra lịch lãm và kính phục Người.

Vũ Khoan (Trích Chuyện nghề, chuyện nghiệp ngoại giao, NXB Hội Nhà văn, 5/2013)

Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

To Top